Phu đường kể chuyện nghề (Kỳ 6): Trái tim của người làm hầm

23/03/2026

Lớp đại học tôi có hơn 80 người. Vậy mà khi ra trường, chỉ mình tôi chọn theo nghề kỹ sư xây dựng cầu – hầm. Nhiều người hỏi tôi sao không chọn nghề khác cho đỡ vất vả. Tôi cũng không biết diễn tả sao cho trọn vẹn, chỉ biết rằng những “biến số” thú vị trong hành trình làm nghề đã luôn cuốn hút tôi, giữ cho ngọn lửa nghề vẫn “cháy” trong tim đến tận hôm nay.

Trước khi có hầm Đèo Cả, các dự án hầm xuyên núi lớn chủ yếu từ vốn ODA và do chuyên gia và nhà thầu nước ngoài đảm nhiệm. Kỹ sư Việt Nam tham gia khuyến nghị, đề xuất, còn quyết định cuối cùng sẽ do họ đưa ra.

Tôi tham gia vào dự án hầm Đèo Cả từ năm 2014 với vai trò tư vấn giám sát. Đây là dự án hầm đầu tiên do người Việt làm chủ cả về tài chính và kỹ thuật. Có các chuyên gia nước ngoài được thuê về để tham gia hỗ trợ tư vấn. Kỹ sư nước ngoài, nhất là người Nhật thường có lối làm việc vô cùng nguyên tắc và cẩn trọng.

Theo lý thuyết công nghệ đào hầm NATM của Áo, bước đào tối đa là khoảng 1-3m. Đối với hầm Đèo Cả, nếu giữ đúng mức đó thì tiến độ thực tế sẽ có độ trễ. Sau khi đánh giá kỹ các điều kiện an toàn, bằng kiến thức nắm vững nguyên lý đào hầm NATM tự cân bằng đất đá, đội ngũ kỹ sư người Việt đề xuất tăng bước đào lên khoảng 1-4,5m tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất phù hợp.

Đề xuất này cho thấy rõ sự khác biệt trong tư duy khi người Nhật bám chặt lý thuyết, còn kỹ sư Việt Nam sẵn sàng tìm giải pháp đột phá khi điều kiện cho phép nhưng vẫn đảm bảo yếu tố cốt lõi của phương pháp NATM. Chúng tôi học từ họ tinh thần kỷ luật và tiêu chuẩn an toàn, nhưng không sao chép máy móc.

Hầm Cù Mông - công trình đầu tiên tôi trực tiếp tham gia thi công và tự hào bởi đây cũng là nơi chứng kiến bước đột phá thật sự của đội ngũ kỹ sư Việt Nam. Tại công trình này, toàn bộ quá trình từ tư vấn đến thi công đều do người Việt đảm nhiệm.

Bên cạnh độ dài bước đào, công nghệ NATM truyền thống quy định chỉ phun bê tông khi gặp đất đá cấp 4, tức là điều kiện địa chất yếu. Nhưng sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, chúng tôi quyết định phun ngay sau khi đào. Theo đó, trong quá trình đào hầm, kết cấu khối đất đá sẽ thiết lập một trạng thái cân bằng mới hoặc bị phá vỡ. Nắm rõ bản chất đó, chúng tôi cho rằng cần triển khai kết cấu chống đỡ ngay sau đào để nhanh chóng tạo lập trạng thái ổn định mới. Việc đưa về trạng thái cân bằng mới nhanh hơn đã tối ưu hóa từng công đoạn để vừa bảo đảm an toàn, vừa rút ngắn thời gian thi công, phù hợp với gần như mọi cấu tạo địa chất.

Song song với đó, chúng tôi triển khai đào hầm nhỏ đi trước với đường kính nhỏ hơn một nửa hầm chính để thăm dò và kiểm soát điều kiện địa chất. Nhờ vậy, tiến độ tổng thể có thể nhanh hơn gấp bốn lần so với phương pháp thông thường.

Tháng 6/2016, khi đoàn chuyên gia Nhật tới thăm công trường hầm Cù Mông, họ bày tỏ sự ngạc nhiên trước chất lượng và tiến độ thi công. Với chúng tôi, đó là khoảnh khắc người Việt khẳng định được năng lực và đứng vững trên đôi chân của mình. Công trình hầm Cù Mông cũng được hoàn thành vượt tiến độ 2,5 tháng.

Từ những nền tảng đó, chúng tôi từng bước đúc rút và hình thành phương pháp đào hầm được cải tiến riêng phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất trong nước. Phương pháp này tiếp tục được đội ngũ kỹ sư Đèo Cả thử nghiệm, kiểm chứng, hoàn thiện và từng bước khẳng định giá trị trong thực tiễn. Năm 2024, Tập đoàn Đèo Cả đăng ký sáng chế với tên gọi “Phương pháp thi công hầm đường bộ bằng cách tăng không gian tiếp cận kết hợp phun gia cố ngay sau khi đào”. Phương pháp đào hầm “Hệ Đèo Cả” chính thức được ra đời.

Tôi hay nói với anh em rằng nhiều kỹ sư từ Nhật Bản, Trung Quốc hay châu Âu chọn cách bám chặt lý thuyết NATM. Cách tiếp cận của chúng ta khác, khi đã bảo đảm an toàn 100% thì không có lý do gì để không tìm cách làm tối ưu hơn. Đó có lẽ là tinh thần “nghĩ khác biệt, tạo cách biệt” mà tôi thấm nhuần khi khoác lên mình “màu áo” Đèo Cả.

Khi làm cầu, đường, người kỹ sư có thể định hình khá rõ nhịp thi công qua các thông số kỹ thuật ban đầu, đôi khi có thay đổi nhưng thường không mang yếu tố bất ngờ lớn.

Còn với hầm xuyên núi, dù có khảo sát kỹ càng đến đâu, điều kiện vẫn có thể thay đổi hoàn toàn bởi địa chất hoàn toàn ẩn mình trong lòng núi. Có những vị trí chỉ cách nhau vài mét cũng không thể áp dụng cùng phương pháp thi công. Sự bất định không chỉ đến từ địa chất mà cả địa hình, tổ chức thi công… buộc ta phải liên tục quan sát, theo dõi, tính toán để chinh phục.

Sự thử thách đó cũng tạo nên sức hấp dẫn riêng của nghề làm hầm. Từ Đèo Cả, Cù Mông, tôi cùng các anh em tiếp tục Bắc tiến chinh phục những hầm Hải Vân 2, Thung Thi trên cao tốc Mai Sơn – QL45, Trường Vinh trên cao tốc Nghi Sơn – Diễn Châu, hầm bao biển Quảng Ninh rồi vào ngược lại hầm Núi Vung thuộc cao tốc Cam Lâm – Vĩnh Hảo. Mỗi nơi đều mang đến cho tôi những dấu ấn, tình cảm riêng. Nhưng để lại ấn tượng nhất với tôi cho tới giờ là cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn, nơi tôi đảm nhiệm vai trò chỉ huy trưởng hạng mục hầm số 2 (nay là hầm Huân Phong).

Khó khăn đầu tiên chúng tôi phải giải quyết không phải phương án kỹ thuật, mà là đường tiếp cận và thủ tục pháp lý. Sau nhiều tháng làm việc với các bên liên quan, chúng tôi mới có thể bắt đầu những mũi khoan đầu tiên. Khó khăn lại xuất hiện khi cấu tạo địa chất liên tục thay đổi so với khảo sát ban đầu của chủ đầu tư, buộc chúng tôi vừa thi công vừa khoan thăm dò bổ sung nhằm điều chỉnh phương án.

Thêm vào đó, đặc thù thời tiết khu vực Quảng Ngãi vô cùng khắc nghiệt, nắng như rang mà mưa như trút. Ngẫm mới thấy, cái nghề “phu đường” cũng như nhà nông, luôn phải “trông trời, trông đất, trông mây”.

Mùa mưa ở Quảng Ngãi trời tuôn nước xối xả, ngày này qua ngày khác. Đường công vụ ngập ngụa bùn đất. Tiến độ thi công gần như trông vào những khoảng tạnh ráo và đặc biệt dồn vào mùa khô.

Bước vào giai đoạn này, công trường hầm 2 lại đối diện với một bài toán nan giải là khan hiếm nguồn nước. Trong quá trình đào hầm, nước thường được phun trực tiếp vào mũi khoan nhằm làm mát thiết bị, mài mòn đá. Đồng thời, dòng nước giúp cuốn trôi mùn khoan và các mảnh đá vụn ra khỏi lỗ khoan, hạn chế tình trạng kẹt mũi khoan, góp phần giảm bụi đá trong hầm, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn hơn cho công nhân. Do đó, không có nước để khoan hầm cũng giống như người nông dân thiếu nước tưới tiêu canh tác.

Để ổn định nguồn nước, chúng tôi tìm ra phương án đào rãnh dẫn dòng nước thải khoan hầm vào bể chứa có nhiều lớp lọc nhằm tuần hoàn nguồn nước quý giá. Phương án này sau đó đã chứng minh hiệu quả rõ rệt khi tiết kiệm đến 95% lượng nước sử dụng.

Dù không quá dài, hầm số 2 lại chịu áp lực tiến độ vô cùng lớn bởi đóng vai trò như con đường công vụ để tiếp cận hầm số 3 – đường găng tiến độ lớn nhất, đặt ra yêu cầu phải sớm đào thông, bằng không, tiến độ của toàn dự án sẽ bị ảnh hưởng.

Từ yêu cầu đó, chúng tôi khẩn trương triển khai thi công. Dù đẩy nhanh tiến độ, hệ số an toàn trong suốt quá trình vẫn được duy trì ở mức cao hơn so với phương pháp truyền thống. Với chúng tôi, luôn có một nguyên tắc bất biến: không đánh đổi an toàn lấy tiến độ.

Làm hầm không có chỗ cho những quyết định đơn độc. Mỗi sáng từ 6h45 đến 7h30, cả đội sẽ ngồi lại họp giao ban. Bộ máy gần 1.000 con người ở dự án, chỉ cần một mắt xích lệch nhịp là cả dây chuyền bị kéo lùi. Cuộc họp không phải để báo cáo cho xong, mà để cập nhật tình hình thực tế, điều chỉnh kế hoạch và đưa ra quyết định kỹ thuật dựa trên trí tuệ tập thể trước khi áp dụng rộng rãi ngoài công trường.

Giống như chèo thuyền tập thể, chúng tôi không chỉ cần những tay chèo khỏe mạnh, mà còn cần người biết điều tiết nhịp để cả tập thể vận hành đồng bộ. Những sáng tạo cá nhân mà chưa được kiểm chứng, chưa được tập thể đồng thuận, có thể trở thành rủi ro bất cứ lúc nào. Vì vậy, mọi cải tiến đều phải đi qua thảo luận, đánh giá kỹ thuật đầy đủ rồi mới áp dụng xuống công trường. Nguyên tắc đó không phải là rào cản sáng tạo mà để giữ cho hàng ngàn con người an toàn và đi đúng định hướng.

Giây phút đào thông hầm số 2, anh em kỹ sư và thợ mìn đã “vẽ” lên gương hầm cuối cùng hình trái tim bằng đất đá. Tại sao lại là trái tim?

Làm hầm là công việc nặng nhọc, đòi hỏi làm ngày làm đêm trong điều kiện môi trường khắc nghiệt. Đã có không ít anh em rời nghề vì không cân bằng được công việc và gia đình. Có giai đoạn căng thẳng, tôi cam kết với lãnh đạo khi nào đào thông hầm xong mới về thăm nhà. Thế mới nói, nghề cầu đường đòi hỏi hậu phương vững chắc. Nếu không, người ta rất khó yên tâm bám trụ trong hầm mà không nghĩ ngợi việc bên ngoài.

Thông qua gương hầm cuối cùng đó, chúng tôi muốn nói rằng: làm hầm phải xuất phát từ trái tim, nếu không đủ đam mê, làm sao đủ kiên trì và hiểu được niềm hạnh phúc khi khoảnh khắc những tia sáng đầu tiên hắt lại từ phía bên kia đường hầm.

Năm 2020, tôi có cơ hội về Trường Đại học Giao thông vận tải để chia sẻ với sinh viên lớp cầu - hầm về thực tiễn thi công. Nếu như năm xưa, cùng lứa với tôi có tới 80 người một lớp. Giờ chỉ có khoảng 20 bạn trẻ chọn học ngành này. Thực trạng thiếu nhân lực của ngành thi công cầu - hầm thực sự đáng báo động, dù không thiếu việc ngoài thị trường.

Chính vì vậy, ngoài công việc trên công trường, tôi trân trọng những lần được đứng trên bục giảng, truyền kiến thức, kinh nghiệm, đặc biệt là niềm đam mê cho các bạn trẻ. Tôi luôn nói với họ: hồi tôi về Đèo Cả, bản thân cũng như tờ giấy trắng, dấn thân vào làm nghề cần kiên trì nỗ lực và không ngừng đào sâu tìm tòi nghiên cứu thêm ngoài thực địa. May mắn là trên chặng đường này, tôi có những tấm gương để mình noi theo.

Thầy Phùng - TS. Nguyễn Thế Phùng, chuyên gia hàng đầu trong nước về công trình ngầm và hầm tại Việt Nam là người có ảnh hưởng lớn tới tôi. Thầy thường nói: “Một cuốn sách nếu đọc lần đầu chưa hiểu phải đọc lại, đọc 10 lần để vỡ ra vấn đề. Làm hầm cũng vậy.”

Cả đời thầy Phùng tận tụy với nghề làm hầm. Ở tuổi ngoài 80 tuổi, thầy vẫn xông pha tới những hiện trường hầm gặp trở ngại để tư vấn cho “đám học trò”. Thầy dạy tôi cách làm việc quyết liệt và sự tận tâm với nghề không phải bằng lời, mà chính từ phong cách làm việc của thầy. Chính những người như thầy Phùng khiến tôi thêm tin và yêu nghề, yêu cả công trường bụi bặm và những con người chất phác quanh mình.

Khi rảnh rỗi tôi hay đọc sách, tôi cũng rất thích nghe nhạc. Có lẽ cũng bởi vậy tôi nhận ra rằng khoảng cách 2 - 4 giây giữa mỗi kíp nổ sẽ có âm thanh khác nhau, tưởng như những công trình thô ráp như đường, cầu, hầm cũng là sinh thể có tâm hồn.

Dù có những ngày mệt, những lúc bùi ngùi nhớ nhà, tôi vẫn thấy mình may mắn. Những công việc mình làm đang góp phần giúp người dân đi lại an toàn hơn, rút ngắn con đường đoàn tụ cho nhiều gia đình. Cuộc sống công trường này nối tiếp công trường kia, đôi khi chưa kịp trải nghiệm chính công trình mình chung sức làm ra, nhưng niềm vui lớn nhất là biết rằng mình đã góp một phần vào đó.

Các kỹ sư trẻ đang theo đuổi nghề làm hầm à, dẫu đường đi có gian nan nhưng cũng đầy tự hào để chinh phục. Bằng trí tuệ và trái tim dẫn lối, sớm thôi ta sẽ thấy ánh sáng phía bên kia đường hầm.

Bùi Hồng Đăng – Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (ICV)

Bắc Hiệp (ghi)